Hôn Nhân, Cuộc Sống

Phụ nữ mang thai nên đi khám bệnh trầm cảm

Sunday, 21/02/2016 - 11:25:25

Lời nhắc nhở nói trên là một phần trong những điều mà cơ quan này khuyên mọi người lớn đều nên đi khám bệnh, trong một tình huống mà ở đó họ có thể được cung cấp hoặc được giới thiệu việc điều trị, nếu họ bị trầm cảm về mặt chẩn y.

Các phụ nữ đang có mang và những người mới làm mẹ đều cần được chú ý thêm, khi nói đến việc khám bệnh trầm cảm, theo những lời khuyến cáo do ủy ban Đặc Trách Các Dịch Vụ Phòng Bệnh Hoa Kỳ đưa ra hôm thứ Ba vừa qua.


Lời nhắc nhở nói trên là một phần trong những điều mà cơ quan này khuyên mọi người lớn đều nên đi khám bệnh, trong một tình huống mà ở đó họ có thể được cung cấp hoặc được giới thiệu việc điều trị, nếu họ bị trầm cảm về mặt chẩn y.

Lời loan báo ấy được đưa ra sau những khuyến cáo tương tự trong năm 2002 và năm 2009. Điều mới mẻ lần này là lời kêu gọi đặc biệt nhắm vào các phụ nữ đang mang thai và những người mới làm mẹ. Cơ quan đặc trách nói rằng những người này cần sự công nhận đặc biệt. Lý do là vì có bằng chứng cho thấy rằng họ có thể được chẩn đoán một cách chính xác và được điều trị thành công, cũng như vì chứng trầm cảm không được điều trị gây nguy hại không những cho người mẹ mà còn cho đứa con của bà.

Trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu gây ra khuyết tật liên quan đến bệnh tật nơi các phụ nữ trên toàn thế giới. Chín phần trăm trong tổng số thai phụ, và 10 phần trăm trong số những người mới làm mẹ, đều sẽ trải qua một giai đoạn trầm cảm nghiêm trọng, theo các bằng chứng được cơ quan nói trên đan cử. Các cuộc nghiên cứu đã cho thấy rằng các trẻ sơ sinh và các bé mới biết đi, mà có mẹ bị trầm cảm, đều có thể gặp phải nhiều vấn đề. Các em có thể khó dỗ, ít tương tác, hoặc gặp thêm nhiều vấn đề về giấc ngủ.
Những điều khuyến cáo của ủy ban độc lập ấy đều có uy tín. Nhiều công ty bảo hiểm y tế và nhiều hệ thống y tế nghe theo những lời đề nghị của họ. Nhưng những lời loan báo thường đưa đến những cuộc tranh cãi. Chẳng hạn những lời khuyên mới đây và lặp lại nhiều lần, về việc không nên việc chụp ảnh bộ ngực hàng năm cho các phụ nữ ở độ tuổi 40, đã gây ra nhiều bài báo chạy tít lớn phê phán lời khuyên.
Trong khi đó, lời khuyên về việc khám bệnh trầm cảm đã không gây tranh cãi nhiều như vậy. Những nhà nghiên cứu về sức khỏe tâm thần được sớm nghe lời khuyên thường chú ý đến những câu hỏi như cách thức nào là tốt nhất được sử dụng trong việc khám nghiệm chứng trầm cảm ở phụ nữ, và về tầm quan trọng của việc nhấn mạnh vào nhu cầu nghiên cứu nhiều hơn nữa về các phương pháp điều trị.

Không có cuộc tranh cãi nào xảy ra về lời ủy ban ấy kêu gọi công nhận các nhu cầu của những người phụ nữ mang thai và những người mới làm mẹ.

Bà Evette Ludman, một nhà tâm lý học chẩn y, chuyên gia khoa học hành vi ứng xử tại Viện Nghiên Cứu Y Tế Tập Thể ở Seattle, cho biết, “Xét về mặt lịch sử, chứng trầm cảm ở những nhóm người ấy đã không được công nhận đúng mức, cũng như không được điều trị đúng mức.” Bà nói điều quan trọng nhất trong việc khuyến cáo là người ta sẽ được chăm sóc, khi họ được chẩn đoán có triệu chứng của bệnh trầm cảm.

Bà Heidi Koss cho biết bà đã không được khám khi sinh con đầu lòng cách đây 20 năm. Thậm chí chẳng có ai chú ý khi bà than phiền về những triệu chứng của trầm cảm với bác sĩ sản khoa trong cuộc kiểm tra sáu tuần của cô.

“Ông ấy nói, Ồ, đây là chuyện bình thường nơi nhiều người mẹ, có lẽ cô nên đi ra ngoài nhiều hơn, có thể đi mua một chiếc váy mới chẳng hạn.”

Nay bà cho biết, “Điều đó gây thêm cảm giác bất lực, tuyệt vọng và cô đơn cho tôi.” Trong năm 2011, bà nói về nhiều lần bà toan tự tử, trước khi cuối cùng tìm được một chuyên viên cố vấn sức khỏe tâm thần cảm thông với bà, khoảng chừng một năm sau khi đứa con đầu lòng của bà ra đời.

Kinh nghiệm của Koss về chứng trầm cảm hậu sản đã gây cảm hứng cho bà đi học để lấy một văn bằng chuyên khoa cố vấn. Hiện nay bà hành nghề ở Kirkland, tiểu bang Washington, và là thành viên ban giám đốc của một tổ chức giáo dục phi lợi nhuận, Postpartum Support International.
Bà nói, “Việc mang thai không phải là từ cổ trở xuống.”

Bà nêu ra những cuộc nghiên cứu cho thấy số lượng phụ nữ mắc bệnh tâm thần khi đang có thai và sau khi mang thai, là nhiều hơn so với số lượng phụ nữ bị tiểu đường hoặc cao huyết áp trong thời kỳ thai nghén, hoặc chuyển dạ sinh non.

Bà Koss cho biết một cuộc nghiên cứu nhỏ ở nước Anh, được thực hiện vào cuối thập niên 1990, nói rằng các chứng rối loạn tâm thần, và tự tử nói riêng, là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho người mẹ.

Viết bình luận đầu tiên

MỚI CẬP NHẬT